PHÁT TRIỂN KHU KINH TẾ ĐẶC BIỆT THÀNH CỰC TĂNG TRƯỞNG MỚI: THỜI CƠ, ĐIỂM NGHẼN VÀ GIẢI PHÁP CHO VIỆT NAM
Phát triển khu kinh tế đặc biệt đặt ra yêu cầu chuyển hóa cơ chế vượt trội thành năng lực sản xuất, đổi mới sáng tạo và liên kết vùng. Trên cơ sở nghiên cứu quốc tế và định hướng chính sách của Việt Nam, bài viết phân tích bốn nhóm thời cơ, ba nhóm điểm nghẽn và đề xuất năm nhóm giải pháp, chú trọng hiệu quả sử dụng nguồn lực, năng lực doanh nghiệp trong nước và lợi ích của người dân
.
Nghị quyết số 19-NQ/TW xác định mô hình phát triển mới “Mô hình phát triển đất nước tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập”. Ảnh: Lê Tiên
Tóm tắt: Bài viết sử dụng phương pháp tổng quan tài liệu và phân tích chính sách định tính để nghiên cứu điều kiện phát triển khu kinh tế đặc biệt thành cực tăng trưởng mới tại Việt Nam. Nguồn tham khảo gồm bài viết trên Tạp chí Kinh tế – Tài chính, bốn công trình nghiên cứu quốc tế và các nguồn chính thức về định hướng, chính sách phát triển kinh tế của Việt Nam. Nội dung tập trung làm rõ cơ hội đổi mới thể chế, thu hút đầu tư, liên kết vùng và phát triển doanh nghiệp; đồng thời nhận diện những vấn đề về năng lực thực thi, sử dụng nguồn lực và khả năng tạo tác động lan tỏa. Các giải pháp được đề xuất theo hướng gắn cơ chế đặc thù với trách nhiệm giải trình, đầu tư có trọng tâm, phát triển năng lực nội sinh và đánh giá kết quả bằng dữ liệu.
Từ khóa: Khu kinh tế đặc biệt; cực tăng trưởng; thể chế; liên kết vùng; phát triển bền vững.
1. Đặt vấn đề
Phát triển khu kinh tế đặc biệt là vấn đề cần được xem xét trong tổng thể đổi mới mô hình tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Bài viết “Mở cơ chế phát triển khu kinh tế đặc biệt thành cực tăng trưởng mới” của Thu Hiền đề cập cơ hội mở rộng không gian phát triển thông qua các cơ chế đặc thù về quản trị, quy hoạch, hạ tầng và huy động nguồn lực. Từ đó, câu hỏi đặt ra là: cần bảo đảm những điều kiện nào để cơ chế mới tạo ra kết quả phát triển thực chất? [1]
Theo thông tin trên Báo điện tử Chính phủ, Luật Phát triển đô thị được Quốc hội thông qua ngày 24/8/2026 và có hiệu lực từ ngày 1/10/2026. Tại thời điểm hoàn thành bài viết, ngày 11/9/2026, chưa có cơ sở đánh giá kết quả thực hiện các cơ chế mới của Luật. Vì vậy, nghiên cứu tập trung vào cơ hội, điều kiện triển khai và đề xuất giải pháp; không coi mục tiêu chính sách là thành quả đã đạt được. [9]
Bài viết sử dụng phương pháp tổng quan tài liệu và phân tích chính sách định tính. Khái niệm khu kinh tế đặc biệt trong các nghiên cứu quốc tế bao quát những mô hình có đặc điểm khác nhau. Việc tham khảo vì thế tập trung vào cơ chế tác động và điều kiện thực hiện, không đồng nhất toàn bộ các mô hình đó với loại hình pháp lý tại Việt Nam.
Trong phạm vi bài viết, yêu cầu trở thành cực tăng trưởng được tiếp cận qua khả năng phát triển hoạt động sản xuất, tạo việc làm, nâng cao năng lực doanh nghiệp và hình thành liên kết với khu vực xung quanh. Đây là khung phân tích của nghiên cứu, không phải bộ tiêu chí pháp lý công nhận khu kinh tế đặc biệt.
2. Tổng quan nghiên cứu và cơ sở định hướng
Bài viết lựa chọn bốn công trình quốc tế, gồm một bài báo khoa học và ba nghiên cứu chính sách của Ngân hàng Thế giới, để tham khảo cách tiếp cận và kinh nghiệm phát triển khu kinh tế đặc biệt.
Trong nghiên cứu Special Economic Zones: What Have We Learned?, đăng trên ấn phẩm Economic Premise, Thomas Farole (2011) tổng kết kinh nghiệm thu hút đầu tư, tạo việc làm và bảo đảm tính bền vững của các chương trình khu kinh tế. Công trình gợi mở cách đánh giá chú trọng chất lượng thiết kế, tổ chức thực hiện và quản lý, đồng thời xem xét kết quả kinh tế cùng những vấn đề xã hội, môi trường. [2]
Bài báo The Economic Impact of Special Economic Zones: Evidence from Chinese Municipalities của Jin Wang (2013), đăng trên Journal of Development Economics, nghiên cứu tác động kinh tế của chương trình khu kinh tế đặc biệt thông qua dữ liệu địa phương tại Trung Quốc. Công trình cung cấp bằng chứng thực nghiệm để tham khảo khi xem xét quan hệ giữa chính sách phát triển khu kinh tế, thu hút đầu tư và kết quả kinh tế địa phương. Kết quả nghiên cứu không được sử dụng để dự báo trực tiếp tác động tại Việt Nam. [3]
Trong công trình Global Experiences with Special Economic Zones: Focus on China and Africa, Douglas Zhihua Zeng (2015) đối chiếu kinh nghiệm Trung Quốc và châu Phi. Nghiên cứu hỗ trợ nhận diện sự cần thiết phải xem xét bối cảnh, điều kiện triển khai và năng lực thực hiện khi vận dụng mô hình. Giá trị tham khảo nằm ở việc xác định những vấn đề cần kiểm chứng, thay vì chuyển nguyên trạng một kinh nghiệm thành công sang địa bàn khác. [4]
Báo cáo Special Economic Zones: An Operational Review of Their Impacts của Ngân hàng Thế giới (2017) xem xét hoạt động của các khu kinh tế trong quan hệ với đặc điểm khu, chính sách và bối cảnh kinh tế. Đây là nguồn tham khảo cho cách đánh giá kết hợp giữa kết quả thu hút đầu tư, hiệu quả hoạt động và tác động đối với khu vực xung quanh. [5]
Về định hướng trong nước, Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 17/11/2022 đặt công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên nền tảng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, gắn xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ với hội nhập quốc tế và phát triển bền vững. Đây là căn cứ để xem xét khu kinh tế đặc biệt trong quan hệ với nâng cao năng lực sản xuất của quốc gia. [6]
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cung cấp định hướng cho việc nâng cao năng lực công nghệ. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân là căn cứ để chú trọng điều kiện tham gia và phát triển của doanh nghiệp trong nước. [7], [8]
Từ các cơ sở trên, bài viết lựa chọn hướng phân tích gắn cơ chế đặc thù với năng lực nội sinh, hiệu quả nguồn lực và lợi ích xã hội. Việc đề xuất chính sách phải phù hợp với pháp luật Việt Nam, thẩm quyền của cơ quan thực hiện và điều kiện cụ thể của từng địa bàn.
3. Bốn nhóm thời cơ và thuận lợi
3.1. Cơ hội nâng cao chất lượng thể chế và quản trị phát triển
Thông tin chính thức về Luật Phát triển đô thị nhấn mạnh phân cấp, phân quyền gắn với năng lực, điều kiện thực hiện và trách nhiệm giải trình. Đây là cơ sở để nghiên cứu phương thức điều hành phù hợp hơn với yêu cầu của từng địa bàn. [9]
Cơ hội này cần được cụ thể hóa ở cấp thực hiện. Một quy trình đầu tư có cơ quan chịu trách nhiệm rõ ràng, thời hạn xử lý minh bạch và cơ chế phối hợp xác định trước sẽ tạo điều kiện để doanh nghiệp lập kế hoạch. Do đó, việc triển khai nên bắt đầu bằng rà soát từng thủ tục, xác định khâu chờ đợi và trách nhiệm xử lý.
Lợi thế về thể chế cần được kiểm chứng qua trải nghiệm thực tế của người dân, doanh nghiệp. Có thể đề xuất theo dõi thời gian giải quyết hồ sơ, số lần yêu cầu bổ sung và tỷ lệ phản ánh được xử lý. Những chỉ tiêu này giúp đánh giá việc tăng quyền chủ động đã chuyển thành chất lượng phục vụ như thế nào.
3.2. Cơ hội thu hút đầu tư gắn với nâng cao năng lực sản xuất
Nghiên cứu của Wang cung cấp bằng chứng về tác động kinh tế tích cực của chương trình khu kinh tế đặc biệt trong bối cảnh Trung Quốc được khảo sát. Điều này cho thấy mô hình có khả năng hỗ trợ phát triển khi được đặt trong những điều kiện phù hợp, nhưng chưa đủ để khẳng định kết quả tương tự sẽ xuất hiện tại Việt Nam. [3]
Đối với Việt Nam, cơ hội cần được xem xét theo chất lượng hoạt động mà dự án mang lại. Khi đánh giá một đề xuất đầu tư, nên làm rõ sản phẩm, công nghệ, nhu cầu lao động, thị trường và khả năng hợp tác với doanh nghiệp trong nước.
Việc lựa chọn ngành ưu tiên cần dựa trên năng lực đáp ứng của địa bàn. Với ngành có yêu cầu công nghệ cao, đề án cần chứng minh phương án nhân lực, năng lượng và dịch vụ kỹ thuật. Mục tiêu thu hút đầu tư chỉ có cơ sở thực hiện khi các điều kiện này được xác định cùng nguồn lực và tiến độ bảo đảm.
3.3. Cơ hội tăng cường liên kết vùng và hình thành mạng lưới cung ứng
Farole đề cập vai trò của hạ tầng đáng tin cậy và sự phù hợp với lợi thế kinh tế trong quá trình phát triển khu kinh tế. Bài học này có ý nghĩa khi lựa chọn địa điểm và tổ chức kết nối với thị trường. [2]
Theo hướng đó, khu kinh tế đặc biệt có thể được nghiên cứu như một đầu mối kết nối sản xuất, logistics, đào tạo và dịch vụ. Phương án phát triển cần tính đến năng lực cung ứng của các địa phương xung quanh, thay vì giới hạn trong địa giới khu.
Cơ hội liên kết phải được cụ thể hóa bằng nhu cầu giao dịch. Chẳng hạn, cần xác định doanh nghiệp trong vùng có thể cung cấp sản phẩm, dịch vụ nào; cần bổ sung tiêu chuẩn hoặc hạ tầng gì để tham gia. Mức độ lan tỏa sau này nên được theo dõi thông qua hợp đồng cung ứng, việc làm và dịch vụ phát sinh ngoài khu.
3.4. Cơ hội kết hợp đổi mới sáng tạo với phát triển doanh nghiệp trong nước
Các định hướng về khoa học, công nghệ và kinh tế tư nhân tạo cơ sở để nghiên cứu chương trình nâng cao năng lực doanh nghiệp ngay trong quá trình xây dựng khu kinh tế đặc biệt. [7], [8]
Có thể đề xuất dịch vụ dùng chung về thử nghiệm sản phẩm, kiểm định, tư vấn tiêu chuẩn và đào tạo kỹ thuật. Tuy nhiên, việc đầu tư phải xuất phát từ nhu cầu sử dụng cụ thể. Với dịch vụ đã có trên thị trường, cần xem xét khả năng kết nối, đặt hàng trước khi xây dựng thêm cơ sở mới.
Hiệu quả hỗ trợ nên được đánh giá bằng sự thay đổi ở doanh nghiệp: sản phẩm được cải tiến, tiêu chuẩn được đáp ứng, hợp đồng được ký kết hoặc năng lực quản trị được nâng lên. Đây là cách chuyển định hướng đổi mới sáng tạo thành nhiệm vụ có thể tổ chức và kiểm tra.
4. Ba nhóm điểm nghẽn và khó khăn
4.1. Khoảng cách giữa cơ chế được thiết kế và năng lực thực hiện
Kinh nghiệm so sánh của Zeng gợi mở yêu cầu xem xét đồng thời thể chế và năng lực triển khai. Vì vậy, khi áp dụng cơ chế mới, cần đánh giá mức độ sẵn sàng của bộ máy thực hiện. [4]
Những vấn đề cần kiểm tra gồm năng lực cán bộ, chất lượng dữ liệu, quy trình phối hợp và khả năng giải quyết công việc phát sinh. Nếu chưa xác định rõ trách nhiệm, việc trao thêm thẩm quyền có thể chưa tạo được tiến độ như kỳ vọng. Đây là rủi ro cần đánh giá trước, không phải kết luận rằng mọi địa phương đều có cùng hạn chế.
Khó khăn còn nằm ở việc chuyển mục tiêu chung thành quyết định cụ thể. Một đề án có thể đồng thời đặt mục tiêu thu hút vốn, phát triển công nghệ và tạo việc làm, nhưng cần xác định thứ tự ưu tiên và cách xử lý khi các mục tiêu chưa thống nhất. Thiếu tiêu chí lựa chọn sẽ gây khó khăn cho cả thực thi và giám sát.
4.2. Áp lực nguồn lực và yêu cầu chứng minh hiệu quả đầu tư
Báo cáo của Ngân hàng Thế giới năm 2017 phân tích vấn đề chi phí ưu đãi và tác động đến phân bổ nguồn lực. Đây là cơ sở để yêu cầu đánh giá lợi ích cùng chi phí của chính sách. [5]
Ở cấp đề án, cần làm rõ vốn đầu tư ban đầu, chi phí vận hành, trách nhiệm cung cấp hạ tầng và phương án xử lý khi tiến độ thu hút đầu tư chậm. Chưa có dữ liệu cụ thể thì chưa thể kết luận mức thiếu vốn hoặc hiệu quả ngân sách của một địa bàn.
Một điểm cần chú ý là phân biệt quy mô cam kết với kết quả thực hiện. Vốn đăng ký, diện tích quy hoạch và công suất thiết kế phản ánh những khía cạnh khác nhau; chúng chưa đủ để chứng minh hiệu quả kinh tế. Thẩm định cần có các tình huống về nhu cầu, tiến độ và chi phí để cơ quan quyết định nhận diện giới hạn chịu đựng của phương án.
4.3. Khả năng liên kết doanh nghiệp, đáp ứng nhân lực và bảo đảm lợi ích xã hội
Nghị quyết 29-NQ/TW đã chỉ ra những hạn chế về nội lực và mức độ tham gia chuỗi giá trị của nền kinh tế. Từ đó, việc phát triển khu kinh tế đặc biệt cần chú trọng năng lực tham gia của doanh nghiệp trong nước. [6]
Tại từng địa bàn, phải khảo sát khả năng đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng, quy mô đơn hàng và tiến độ giao hàng của nhà cung ứng. Không thể mặc nhiên coi sự hiện diện của doanh nghiệp lớn sẽ tạo chuyển giao công nghệ. Mối liên kết cần được nhận diện qua hoạt động hợp tác, đào tạo và giao dịch cụ thể.
Đồng thời, phương án nhân lực phải gắn với điều kiện sống của người lao động. Cần đánh giá nhu cầu nhà ở, trường học, y tế và đi lại theo quy mô dự kiến. Nếu chưa tính đủ các nội dung này, hồ sơ phát triển sẽ chưa phản ánh đầy đủ nhu cầu nguồn lực và điều kiện vận hành.
5. Năm nhóm giải pháp
Những nội dung dưới đây là đề xuất của bài nghiên cứu; việc áp dụng cần được xem xét theo pháp luật và thẩm quyền tương ứng.
5.1. Cụ thể hóa cơ chế thực hiện, gắn phân quyền với trách nhiệm giải trình
Trước hết, cơ quan chủ trì cần xây dựng danh mục nhiệm vụ, phân định trách nhiệm giữa các cấp, ngành và xác định đầu mối xử lý từng nhóm công việc. Với vấn đề vượt thẩm quyền, phải có quy trình báo cáo và theo dõi kết quả.
Đề xuất thiết lập hệ thống quản lý hồ sơ thống nhất, ghi nhận thời điểm tiếp nhận, yêu cầu bổ sung và kết quả giải quyết. Thông tin tổng hợp phù hợp cần được công bố định kỳ để phục vụ giám sát chất lượng hành chính.
Đối với cơ chế thí điểm, cần xác định mục tiêu, phạm vi, thời hạn và tiêu chí đánh giá ngay từ đầu. Kết quả thực hiện là căn cứ để cơ quan có thẩm quyền xem xét tiếp tục, điều chỉnh hoặc kết thúc. Quá trình này cần kết hợp tạo điều kiện thực thi với kiểm soát quyền lực và bảo đảm tính minh bạch.
5.2. Lựa chọn địa bàn, ngành ưu tiên và phân kỳ đầu tư theo điều kiện thực tế
Mỗi đề án cần chứng minh ba nội dung: nhu cầu thị trường, khả năng đáp ứng của địa bàn và nguồn lực bổ sung. Việc lựa chọn ngành nên có khảo sát doanh nghiệp, đánh giá nhân lực và phương án hạ tầng tương ứng.
Đề xuất phân kỳ đầu tư theo mức độ sẵn sàng và nhu cầu đã được kiểm chứng. Trước khi mở rộng, cần đánh giá hiệu quả phần đã đầu tư, tiến độ dự án sử dụng hạ tầng và khả năng cung cấp dịch vụ thiết yếu.
Hạ tầng nội khu phải được xem xét cùng kết nối bên ngoài. Các phương án giao thông, điện, nước và xử lý chất thải cần xác định rõ chủ thể thực hiện, nguồn vốn và tiến độ. Với những địa bàn có yêu cầu đặc thù, phải đánh giá đầy đủ yếu tố môi trường, quốc phòng, an ninh theo quy định liên quan.
5.3. Quản lý hỗ trợ đầu tư dựa trên hiệu quả sử dụng nguồn lực
Trước khi đề xuất hỗ trợ, cần xác định mục tiêu và lượng hóa chi phí trong phạm vi dữ liệu cho phép. Hồ sơ đánh giá nên phân biệt vốn đăng ký với vốn thực hiện, việc làm dự kiến với việc làm thực tế và công suất thiết kế với mức vận hành.
Đề xuất xây dựng tiêu chí hỗ trợ minh bạch, phù hợp với pháp luật và cam kết quốc tế áp dụng. Điều kiện thực hiện, trách nhiệm báo cáo và cách xử lý khi không đáp ứng cam kết cần được xác định rõ, bảo đảm tính dự báo được cho nhà đầu tư.
Đánh giá định kỳ nên làm rõ kết quả tương ứng với nguồn lực đã sử dụng. Khi chưa đủ căn cứ xác định phần đầu tư tăng thêm do chính sách tạo ra, báo cáo cần nêu giới hạn, tránh quy toàn bộ kết quả thu hút vốn cho ưu đãi.
5.4. Phát triển nhà cung ứng trong nước và nhân lực theo nhu cầu doanh nghiệp
Cần khảo sát nhu cầu mua hàng, tiêu chuẩn kỹ thuật và vị trí việc làm của doanh nghiệp dự kiến hoạt động trong khu. Trên cơ sở đó, tổ chức chương trình hỗ trợ nhà cung ứng và đào tạo phù hợp.
Đề xuất tập trung vào thiếu hụt cụ thể như kiểm soát chất lượng, truy xuất nguồn gốc, quản trị đơn hàng hoặc kỹ năng vận hành thiết bị. Cơ sở đào tạo và doanh nghiệp nên phối hợp xác định nội dung, thời lượng thực hành và yêu cầu đầu ra.
Kết quả chương trình cần được theo dõi bằng hợp đồng cung ứng, khả năng duy trì đơn hàng, tỷ lệ làm việc đúng nghề và thu nhập sau đào tạo. Hoạt động kết nối phải tôn trọng lựa chọn thương mại của doanh nghiệp và tuân thủ các quy định liên quan.
5.5. Tích hợp mục tiêu xã hội, môi trường và hệ thống đánh giá tác động
Đề án phát triển cần có phương án nhà ở, dịch vụ công, an toàn lao động, sử dụng tài nguyên và xử lý chất thải phù hợp với quy mô dự kiến. Những nội dung này phải được đưa vào nhu cầu vốn và tiến độ tổ chức thực hiện.
Đề xuất xây dựng dữ liệu nền trước khi triển khai, sau đó theo dõi đầu tư thực hiện, việc làm, thu nhập, giao dịch với doanh nghiệp trong nước và các chỉ tiêu môi trường phù hợp. Cần thống nhất cách tính để có thể so sánh qua thời gian.
Khi đánh giá tác động, phải xem xét biến động chung của nền kinh tế và khả năng đối chiếu với địa bàn tương đồng. Những thay đổi quan sát được chưa tự động chứng minh quan hệ nhân quả. Báo cáo cần phân biệt kết quả đã xác nhận, nhận định có điều kiện và vấn đề còn thiếu dữ liệu; đồng thời có kênh tiếp nhận phản ánh của người dân, doanh nghiệp.
6. Kết luận
Phát triển khu kinh tế đặc biệt thành cực tăng trưởng mới cần được đặt trong yêu cầu nâng cao năng lực nội sinh, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa và cải thiện đời sống nhân dân. Kinh nghiệm quốc tế cung cấp căn cứ tham khảo về điều kiện thực hiện, nhưng không thay thế việc đánh giá địa bàn và dự án cụ thể.
Bốn nhóm thời cơ được nhận diện chỉ có thể chuyển thành kết quả khi những vấn đề về thực thi, nguồn lực và liên kết được giải quyết bằng nhiệm vụ rõ ràng. Năm nhóm giải pháp vì vậy tập trung vào cơ chế có thể tổ chức thực hiện, đầu tư phù hợp, hỗ trợ minh bạch, nâng cao năng lực doanh nghiệp và đánh giá bằng dữ liệu.
Việc triển khai cần bám sát định hướng của Đảng, pháp luật của Nhà nước và điều kiện thực tế. Kết quả phát triển được kiểm chứng sẽ là cơ sở để tiếp tục hoàn thiện chính sách và xem xét mở rộng những cách làm hiệu quả.
Nguyễn Mạnh Hiền, UVBCH Hội đồng Hòa bình và Phát triển Việt Nam
Nguồn tư liệu và tài liệu tham khảo:
- Thu Hiền (2026). “Mở cơ chế phát triển khu kinh tế đặc biệt thành cực tăng trưởng mới”. Tạp chí Kinh tế – Tài chính, ngày 10/9/2026. Bài viết nguồn.
- Farole, T. (2011). “Special Economic Zones: What Have We Learned?”. Economic Premise, số 64, tr. 1–5. World Bank. Toàn văn nghiên cứu.
- Wang, J. (2013). “The Economic Impact of Special Economic Zones: Evidence from Chinese Municipalities”. Journal of Development Economics, tập 101, tr. 133–147. Trang bài báo.
- Zeng, D. Z. (2015). Global Experiences with Special Economic Zones: Focus on China and Africa. World Bank. Toàn văn nghiên cứu.
- World Bank (2017). Special Economic Zones: An Operational Review of Their Impacts. Washington, DC: World Bank. Toàn văn báo cáo.
- Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2022). Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 17/11/2022 về tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Toàn văn trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
- Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Toàn văn trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
- Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân. Toàn văn trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
- Báo điện tử Chính phủ (2026). “Quốc hội thông qua Luật Phát triển đô thị”, ngày 24/8/2026. Bài viết.


